BỆNH HODQKIN LÀ GÌ? CÁC PHƯƠNG PHÁP CHUẨN ĐOÁN BỆNH

ĐẠI CƯƠNG VỀ BỆNH HODQKIN

Bệnh Hodgkin là một trong hai nhóm thuộc U lymphô ác tính – bệnh phát sinh từ các tế bào lymphô trong cơ thể. Bệnh được Thomas Hodgkin tìm ra từ năm 1832.

Bệnh Hodgkin là một bệnh tương đối hiếm gặp ở các nước phương Tây, bệnh chỉ chiếm hơn 1% trong tổng số các loại bệnh UT. Ở nước ta theo ghi nhận UT, tỷ lệ mắc bệnh Hodgkin ở nam là 1,2/100.000 dân và ở nữ là 0,6/100.000 dân, đứng hàng thứ 10 trong các bệnh UT. Nguyên nhân gây bệnh chưa rõ.

TRIỆU CHỨNG LÂM SÀNG

Thời kỳ khởi phát

Thông thường bệnh nhân đến khám vì xuất hiện hạch ngoại vi. Dấu hiệu lâm sàng đặc trưng nhất cần phải được nghĩ tới bệnh Hodgkin là trên những người trẻ tuổi có hạch sưng to bất thường ở vùng cổ, thượng đòn, nách và hiếm gặp hơn ở hạch bẹn, hạch này thường mềm, khá di động, da vùng hạch ít khi bị thay đổi Đôi khi hạch trung thất được phát hiện một cách tình cờ qua khám sức khỏe định kỳ.

Thời kỳ toàn phát

Nếu bệnh nhân đến muộn, ngoài các hạch ngoại vi, có thể có các triệu chứng do hạch chèn ép như đau bụng, hội chứng bít tắc đường niệu, chèn ép tĩnh mạch thận, hoặc có dịch cổ chướng, vàng da… Hội chứng chèn ép trung thất.

Các triệu chứng toàn thân cũng hay gặp trên những bệnh nhân đến khám ở giai đoạn muộn như sút cân >10% trọng lượng cơ thể trong vòng 6 tháng, sốt > 380C không có nguyên nhân nhiễm trùng và ra mồ hôi về đêm, ngứa vô cớ.

CHẨN ĐOÁN HÌNH ẢNH

  1. X-quang thường quy: cho kết quả nhanh, rẻ, giúp có cái nhìn tổng quát về phổi hay trung thất…
  2. Chụp bạch mạch (lymphography)

Trong nhiều thập kỷ, chụp bạch mạch bằng thuốc cản quang được coi là phương pháp chuẩn giúp chẩn đoán tình trạng bệnh lý của hệ thống bạch huyết và hạch bạch huyết. Trong vài năm trở lại đây, nhờ chụp cắt lớp vi tính, vai trò của chụp bạch mạch bị thu hẹp hơn. Nhưng đây là phương pháp duy nhất cho thấy những thay đổi cấu trúc bên trong hạch và rất có giá trị chẩn đoán.

Dấu hiệu hạch bệnh lý là ổ, điểm khuyết hay bọt, ngay cả khi kích thước hạch còn bình thường. Trong nhiều nghiên cứu chụp bạch mạch đã giúp phát hiện những hạch bệnh lý bị bỏ sót khi chụp cắt lớp ổ bụng hay tiểu khung

Siêu âm

Trong bệnh Hodgkin, siêu âm có thể phát hiện ra những tổn thương ở lách, gan, hệ hạch dọc động mạch chủ bụng… với hình ảnh bất thường là những tổn thương giảm âm, nhiều ổ rải rác trong nhu mô gan, lách, thận (Hình 3), hạch bệnh lý khi có kích thước hơn l cm, giảm âm, chạy dọc theo động mạch chủ bụng, động mạch chậu, quanh rốn gan, lách, thận… Dùng siêu âm để phát hiện ra tràn dịch màng phổi, màng tim, u thành ngực, u của tiểu khung. Trong điều kiện kinh tế như nước ta, siêu âm vẫn là phương pháp chẩn đoán có giá trị về chuyên môn cũng như kinh tế

​​​​​​​Chụp cắt lớp vi tính

Ưu điểm lớn nhất của chụp CT là cung cấp những hình ảnh chất lượng cao của từng cơ quan khác nhau mà không bị trừng lên nhau về mặt giải phẫu trong khi vẫn phân biệt được những tổn thương bất thường.

Trong chẩn đoán bệnh Hodgkin, khi kích thước hạch lymphô lớn hơn 1,5cm sẽ được coi là bệnh lý. Hình ảnh tổn thương phổi hay gặp là sự xâm lấn trực tiếp từ hạch rốn phổi vào nhu mô phổi, hoặc những tổn thương dạng nốt thường ở ngoại vi với bờ không rõ nét. Chụp CT cũng có thể phát hiện các tổn thương khác ngoài hạch, như não, thần kinh, cột sống, khớp tuy nhiên khả năng này không bằng máy chụp cộng hưởng từ.

​​​​​​​Chụp cộng hưởng từ

Là kỹ thuật chẩn đoán ảnh tiên tiến cho phép thực hiện các lớp cắt ở mọi mặt phẳng không gian và thấy được cấu trúc của tổn thương.

Trong chẩn đoán bệnh Hodgkin, độ nhạy của cộng hưởng từ cũng cao như của chụp cắt lớp ví tính trong việc phát hiện ra hạch bệnh lý và các ổ tổn thương trong các cơ quan ngoài hạch. Đặc biệt, cộng hường từ rất nhạy khi phát hiện ra tổn thương tủy xương ở mọi vị trí trong cơ thể.

​​​​​​​Chụp ghi hình y học hạt nhân

Ghi hình y học hạt nhân được sử dụng rộng rãi trong UT nhằm chẩn đoán giai đoạn hoặc phát hiện tổn thương tái phát. Đây thuộc về kỹ thuật chẩn đoán hình ảnh chức năng vì được sử dụng những chất đánh dấu đặc biệt với những đặc điểm về sinh hoá học khác nhau cho từng cơ quan, từng tổ chức.

Kỷ thuật này bao gồm hai phần:

  • Tiêm một chất đánh dấu đồng vị phóng xạ vào cơ thể rồi phát hiện sự phân bố của chúng bằng những thiết bị phát hiện hoạt động hạt nhân như camera Anger.
  • Ghi hình cắt lớp bằng bức xạ phôton đơn thuần (single-photon emission SPECT) hay ghi hình cắt lớp bằng bức xạ positron (positron emission tomography-PET).

Khả năng phát hiện các tổn thương ở tủy xương của ghi hình y học hạt nhân hơn hẳn với phương pháp kinh điển là chọc hút tủy xương qua xương cánh chậu. Nó có thể phát hiện ra nhiều vị trí mà phương pháp kinh điển đã bỏ sót. Độ nhạy 88% và độ đặc hiệu 83% đã giúp ghi hình y học hạt nhân có giá trị chẩn đoán cao hơn so với chụp cắt lớp vi tính hay xạ hình.

Tác giả bài viết: Dược Sĩ Đỗ Thế Nghĩa, Đại Học Dược Hà Nội, CEO: Mua Thuốc 24h

​​​​​​​

Điều trị ung thư bằng phương pháp miễn dịch trúng đích

Cách làm đẹp từ chuối

Tham khảo thêm

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *